Chưa thấy cái 'mới'

Mầm đá của Vũ Cương - Huy chương Vàng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2010
Mầm đá của Vũ Cương - Huy chương Vàng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2010
TP - Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc diễn ra từ 1 đến 15-12, trưng bày thành quả 5 năm của giới sáng tác, trong đó hơn 40 tác phẩm được trao giải lần này. Tiền Phong trích giới thiệu tham luận của họa sĩ Đỗ Đức tại Hội thảo nhân Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc hôm nay.
Mầm đá của Vũ Cương - Huy chương Vàng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2010
Mầm đá của Vũ Cương - Huy chương Vàng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2010.

1- Có 836 tác phẩm của 735 tác giả cả nước được chọn trưng bày trong triển lãm. Ban tổ chức cho biết, chọn tranh theo tiêu chí chất lượng nghệ thuật. Tôi tin điều đó. Nhưng có tác giả được chọn hai, ba tranh là hơi nhiều. Ví dụ Bùi Tiến Tuấn hai tranh- một bức giải Bạc, bức còn lại có tên Sự cám dỗ cùng một cách thể hiện, chẳng khác mấy bức có giải.

Phạm Khắc Quang cũng vậy. Kịch bản đương đại đã vào giải thì bày thêm Áo phao làm gì cho nhạt. Mạc Hoàng Thương một lối téc- nich cho hai tranh Chuyển động của rừng và Vươn đến mặt trời. Lê Trần Hậu Anh cũng chỉ một bút pháp trên một chất liệu, vậy chỉ nên chọn bức khá trong hai bức. Tóm lại, tranh cần được chọn lọc tốt hơn nữa

2- Về giải: Không có giải đặc biệt, mà là ba giải Vàng cho ba chất liệu của hai loại hình hội họa, điêu khắc là tương đối sát. Xu huớng trao giải cho thấy hội đồng nghệ thuật đã từ bỏ lối nhìn hiện thực phản ánh sang hiện thực biểu hiện. Tuy vậy tôi không đánh giá cao sự thay đổi này.

Bởi vì vẽ theo cách nào, thể hiện kiểu gì thì cũng chỉ là cái vỏ ngoài của nghệ thuật, chọn cái áo khoác cho phù hợp mà thôi. Tâm điểm của một tác phẩm chính là cái ý tưởng bao quát làm nên tác phẩm. Ở góc nhìn này, Mầm đá của Vũ Cương khá hơn cả, nhưng sao một số gương mặt trẻ thơ trong tranh cứ như bị bệnh đao.

Trong giải Bạc, khá nhất là bức lụa Trước giờ lên đường. Thoáng nhìn cũng thường thường, quen quen, cũ cũ. Nhìn lâu mới thấy đằm. Lê Văn Sửu đã khai thác lụa ở cái nhìn thật tinh tế ý nhị của chất liệu. Xúc cảm và xử lí chất liệu đã gần như được song hành.

Giải khuyến khích thường chứa đựng giá trị của một cách nhìn mới, cách phát hiện đề tài hoặc hé lộ kĩ năng mới nhưng tác giả chưa giải quyết thấu đáo, trao khuyến khích là để khích lệ. Tôi không bao giờ nghĩ khuyến khích là thứ giải an ủi vùng miền hay để ưu ái cá nhân nào. Nhưng một số giải khuyến khích và cả chính thức đợt này, chưa được tốt như hình dung dù có nhiều gương mặt mới.

Các chất liệu khác như đồ họa, tác phẩm không nhiều, cũ kĩ cũng nhiều nhưng có vài gương mặt đáng hi vọng như Vũ Đình Tuấn, Nguyễn Nghĩa Phương (Hà Nội), Trần Giang Nam (Bắc Cạn) và một số tác giả nữ. Tranh in độc bản chưa khẳng định được vị trí, còn nặng về ngẫu hứng ăn may. Còn tranh lụa- chất liệu truyền thống thì đuối hẳn. Sắp đặt thì mới chỉ tìm được chỗ đứng chung.

Một số tác giả vẽ thủy mặc ở TPHCM như Trần Văn Hải, Trương Lộ lần này đã bỏ qua lối vẽ mặc định của trường phái theo học, chuyển sang cách vẽ thực cuộc sống mà dày dặn có sức nặng, như là một cách tìm đầy hứa hẹn. Chuyển hướng như vậy là việc rất khó khi đã nhiều năm vẽ theo công thức của môn phái.

3- Chưa thấy cái mới chuyển động cả ở trong giải vàng giải bạc, còn giải thấp hơn thì đọng nhiều cái nhàn nhạt lặp lại quen lâu như Mạch nguồn sự sống của Trương Bé, Huyền thoại Bãi đá cổ của Nguyễn Văn Chuyên, Buổi chiều của Nguyễn Trung Tín.

Nhịp sống chợ vùng cao của Nguyễn Khắc Tài (Thừa Thiên-Huế) lại quá giống Trần Nguyên Đán về thủ pháp. Hoặc rối rắm đến khó hiểu như Lời rừng của Duy Ninh (Đà Nẵng) v..v…Cũng có cái chưa đáng xếp giải. Và chắc chắn có những tranh đẹp chưa gặp duyên may.

Một nhà điêu khắc nhắc lại câu chuyện hai cố họa sĩ trong triển lãm toàn quốc năm xưa. Họa sĩ Phạm Văn Đôn hỏi họa sĩ Trần Văn Cẩn: Ông thấy thế nào? Trần Văn Cẩn cười nụ bảo, họ mặc áo hoàng đế cả, còn thế nào được. Áo hoàng đế mà cụ Cẩn nói ở đây chính là sự ảnh hưởng không kịp tiêu hóa các danh họa Âu châu của một số tác giả.

Giật mình thấy ở triển lãm này cũng còn lạc vào một số bông lúa mót sau vụ gặt hái của các họa sĩ nước ngoài và các bậc đàn anh trong nước. Hội đồng nghệ thuât cũng nhận ra điều đó, và ngay tranh của hội đồng nghệ thuật cũng phảng phất có bông lúa ấy. Bây giờ sách tham khảo không khó khăn như trước, trên mạng cập nhật thông tin đầy ra. Chỉ cần cắt một mảng, lấy chỗ nọ vá vào chỗ kia, thay quần đổi áo.

Chuyện này không hiếm nữa rồi, có cả ở hội họa đồ họa, cả điêu khắc. Cho thấy nghệ thuật thật lắm gian truân, nếu nghệ sĩ không nâng tầm tri thức và bản lĩnh thì khó cất chân trên chặng đường xa vời vợi.

Triển lãm này nhiều tranh to, nhưng mới chỉ là vẽ to thôi, cá biệt có cái lại giống bức hình họa nghiên cứu, hoặc khá nhiều tranh có tính minh họa sự kiện, mang nặng tính ghi chép. Nó có thể phù hợp với giá trị của một kí họa, còn tranh thì chưa đến tầm. Điều đó cho thấy các họa sĩ còn bị chi phối bới bởi nhiều thứ, trong đó có miếng cơm manh áo, nên làm cho qua chuyện, hoặc cũng có thể việc làm tranh quá tầm với của tác giả.

Trong tạo hình, quá trình tìm là để bật ra cái mới. Qua triển lãm này điều đó còn khó quá. Có bức trừu tượng chỉ có nghĩa làm cho lạ đi bằng hình và cái tên bâng quơ. Giống như quần áo lành lặn thì xé rách ra cho khác đi, cho nó “mới”.

Làm xiếc bằng đường nét và màu rối rắm lên cũng là một cách che cái rỗng về ý tưởng, khoe công hơn là thực thi nghệ thuật. Có lẽ đó là sự non yếu cần phải thoát ra nhanh.

4- Theo giáo khoa nghệ thuật của Nguyễn Sáng, họa sĩ có bốn điều cấm kị, đó là khéo tay- làm xiếc- văn chương- lập dị.

Khéo tay thì thành quen tay, quen tay thì tụt cảm xúc.
Làm xiếc - thứ múa may vô nghĩa trong nghệ thuật.
Văn chương: Làm tác phẩm sa đà, biến tranh thành một thứ minh họa.
Lập dị thì khỏi nói. Làm cho khác nguời, nhằm thu hút sự chú ý thì không còn là mĩ thuật nữa.

Tôi nghĩ những kinh nghiệm của Nguyễn Sáng vẫn là sự tham khảo cần thiết cho mỹ thuật hôm nay.